Chuyên trang thông tin

Bệnh đường hô hấp ở trẻ

MẠCH MÔN – VỊ THUỐC NHUẬN PHẾ

Ngày đăng: 02-12-2016

Tên khác: Củ tóc tiên, Lan Tiên

Tên khoa học: Ophiopogon japonicus Wall. Họ Khoa Học: Thuộc họ Mạch Môn Đông (Haemodoraceae)

Mô tả: Loại thảo, sống lâu năm, cao 10-40 cm, rễ chùm, trên rễ có những chỗ phát triển thành củ mẫm. Lá mọc từ gốc, hẹp, dài 15-40cm, rộng 1-4cm, gốc lá hơi có bẹ. 3 hoa ở kẽ các lá bắc, màu trắng nhạt. Quả mọng màu tím đen, đường kính của quả chừng 6mm. Quả có 1-2 hạt.

Phân bố: Được trồng ở một số nơi, nhiều nhất ở Hải Hưng, Hà Sơn Bình, Hà Bắc.

Bộ phận dùng: Củ to bằng đầu đũa, mềm, vỏ trắng vàng, thịt ngọt, không mốc, không bị teo là tốt. Củ cứng, vị đắng thì không nên dùng (Dược liệu Việt Nam)

1461212591-mach-mon-b4eba-1409046151658

Mô tả dược liệu: Mạch môn hình giống cái suốt vải, giữa béo mập, tròn, dẹt, không đầu, dài khoảng 1,6 – 3,3 cm, đường kính phần giữa 0,3 – 0,6 cm. Mặt ngoài màu vàng trắng nửa trong suốt, có vân dọc mịn. Chất mềm dai, mặt cắt ngang màu trắng, giống chất sáp, mịn. Giữa có lõi cứng nhỏ, có thể rút ra. Hơi có mùi thơm, vị ngọt, nhai thì dính. Loại to, màu trắng vàng nhạt, chất mềm, nhai dính là tốt. Loại nhỏ, màu vàng nâu, nhai ít dính là loại kém. Phần rễ con không dùng làm thuốc (Dược Tài Học).

Thu hái: Vào tháng 7-8

Thành phần: Mạch môn đông có chứa các hợp chất saponin steroid, β-sitosterol, acidamin, glucose, sinh tố A.

Công dụng: Theo Đông y, mạch môn vị ngọt, hơi đắng, tính hàn; vào phế, vị, tâm. Có tác dụng dưỡng âm nhuận phế, ích vị sinh tân, thanh tâm trừ phiền. Dùng cho các trường hợp phế âm hư, vị âm hư, tâm hỏa vượng với các triệu chứng ho khan, thổ huyết, khái huyết (lao, áp-xe phổi…), họng miệng khô, táo bón, lòng bàn tay bàn chân nóng; đái tháo đường, đái ít, nước tiểu đỏ sẫm. Dùng dưới dạng nấu, sắc, hãm…

Tác dụng dược lý: Đã nghiên cứu và chứng minh rễ củ mạch môn có tác dụng ức chế tương đối tốt phế cầu. Về tác dụng chống ho, nghiên cứu trên thực nghiệm cho thấy rễ mạch môn có tác dụng giảm ho rõ rệt khi gây ho nhẹ bằng khí dung với amoniac hoặc acid citric. Đồng thời cũng chứng minh tác dụng long đờm, tăng tiết dịch ở niêm mạc khí phế quản của mạch môn.

Một số bài thuốc theo kinh nghiệm:

Bài 1: Trị lao phổi, viêm phế quản mạn tính, viêm họng mạn, có hội chứng phế kèm ho kéo dài, ho khan: Mạch môn 20g, Bán hạ chế 6g, Đảng sâm 12g, Cam thảo 4g, Ngạnh mễ 20g, Đại táo 4 quả, sắc uống (Mạch Môn Đông Thang – Kim Quỹ Yếu Lược).

Bài 2: Trị Tâm phế có hư nhiệt, hư lao, khách nhiệt, cốt chưng, lao nhiệt: Sa sâm, ngũ vị tử, thanh hao, miết giáp, ngưu tất, địa hoàng, thược dược, thiên môn, ngô thù du. Tán bột. Trộn mật làm viên (Bản thảo diễn nghĩa)

Bài 3: Trị táo nhiệt hại phế, ho khan, đờm dính, họng đau: Mạch môn 5g, thạch cao 10g, tang diệp 12g, cam thảo 4g, mè đen 4g, a giao 3g, hạnh nhân 3g, tỳ bà diệp 4g. Sắc uống (Lâm sàng thường dụng trung dược thủ sách)

Bài 4: Trị phế và vị bị táo nhiệt, họng đau, họng khô, ho ít đờm: Thiên môn 1kg, nấu đặc thành cao, thêm mạch nha 0,5kg, uống ngày 3 lần, mỗi lần 1-2 thìa canh, trước bữa ăn (Nhị Đông Cao – Lâm sàng thường dụng trung dược thủ sách)

Món ăn bài thuốc có mạch môn

Bài 1. Cháo mạch môn: mạch môn tươi 50g, sinh địa tươi 50g, gừng tươi 20g. Cả ba thứ này ép lấy nước; gạo tẻ 100g, ý dĩ 50g cùng nấu cháo. Khi gần được cháo cho 3 thứ nước ép trên vào khuấy đều thành dạng cháo loãng. Dùng cho các trường hợp nhiễm độc thai nghén nôn oẹ không ăn uống được.

Bài 2. Mạch môn hầm tim lợn: mạch môn 20g, hạt sen 15g, tim lợn 1 quả. Tim lợn rửa sạch thái lát; tất cả cùng được nấu nhừ, thêm gia vị. Dùng cho người cao tuổi kích ứng mất ngủ.

Bài 3. Sữa mạch môn ô mai: mạch môn 20g, ô mai 12g, sữa bò 30ml. Mạch môn, ô mai cùng sắc lấy nước bỏ bã, thêm sữa, khuấy đều. Dùng cho các trường hợp đái tháo đường, khô miệng khó nuốt, nuốt đau, khát nước.

Kiêng kỵ: Ho do ngoại cảm phong hàn, đàm thấp, đầy trướng bụng, tiêu chảy không dùng. 

  • Mạch môn có tác dụng thanh dưỡng âm của Phế và Vị do đó thường bỏ lõi khi sử dụng. Nếu chỉ muốn thanh tâm hỏa mà tư âm thì thường để cả lõi khi sử dụng (Đông Dược Học thiết yếu)
  • Mạch môn và thiên môn cùng giống nhau, nhưng mạch môn không béo và nhiều chất nhờn bổ bằng thiên môn, vì vậy muốn tư âm thì dùng thiên môn tốt hơn. Tuy nhiên mạch môn bổ âm mà không dính nhầy mà còn có thể bổ dưỡng chân âm của Vị, điều này thiên môn không sánh bằng (Đông dược học thiết yếu)
  • Mạch môn và thiên môn đều có tác dụng dưỡng âm, thanh phế, nhuận táo, chỉ khái. Nhưng mạch môn vị hàn, tác dụng tư âm, nhuận táo so với thiên môn kém hơn. Mạch môn thiên về sinh tân, thanh tâm, trừ phiền. Thiên môn tính rất hàn, nhiều nước, tác dụng tư âm nhuận táo mạnh hơn mạch môn, thiên về tư thận, tráng thủy, thanh phế, giáng hỏa, hóa đờm nhiệt (Trung dược lâm sàng giám dụng chỉ mê)

Trải nghiệm khách hàng

Bài viết liên quan