Home | Cẩm nang chăm sóc trẻ | Đặc điểm giải phẫu bộ phận hô hấp trẻ em

Đặc điểm giải phẫu bộ phận hô hấp trẻ em

Có nhiều mẹ thắc mắc vì sao con mình hay bị ho, viêm họng? Nhất là mùa đông, gần như trận cảm này chưa qua trận ho khác đã tới? Hãy cùng tìm hiểu cấu tạo hệ hô hấp của trẻ em để biết câu trả lời.
Hệ hô hấp bao gồm mũi, hầu họng, thanh quản, khí quản và hai buồng phổi. Hệ hô hấp trẻ em khác với người lớn, không những nhỏ hơn về kích thước mà còn có những đặc điểm riêng biệt về giải phẫu và sinh lí: các tổ chức tế bào của bộ phận hô hấp nói chung và phổi nói riêng chưa hoàn toàn biệt hóa và đang ở giai đoạn phát triển.
1. Mũi
– Ở trẻ nhỏ, sự hô hấp bằng đường mũi còn hạn chế vì mũi và khoang hầu tương đối ngắn và nhỏ, lỗ mũi và ống mũi hẹp.
– Niêm mạc mũi mỏng, mịn. Lớp ngoài của niêm mạc gồm các biểu mô rung hình trụ giàu mạch máu và bạch huyết có chức năng làm ấm, ẩm không khí và sát khuẩn, hạn chế tình trạng nhiễm lạnh cho phổi. Tuy nhiên, chức năng hàng rào của niêm mạc mũi ở trẻ nhỏ còn yếu do khả năng sát trùng của niêm dịch còn kém, trẻ dễ bị cảm lạnh và viêm nhiễm mũi họng.
– Các xoang hàm đến 2 tuổi mới phát triển, xoang sàng đã xuất hiện từ khi mới sinh nhưng tế bào chưa biệt hóa đầy đủ. Vì vậy trẻ nhỏ ít khi bị viêm xoang.
2. Họng – hầu
– Trực tiếp nối với các khoang mũi, họng hầu trẻ em tương đối hẹp và ngắn, có hướng thẳng đứng.
– Họng hầu trẻ em có hình phễu hẹp, sụn mềm và nhẵn. Họng phát triển mạnh nhất trong năm đầu và tuổi dậy thì.
– Ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi, họng của trẻ gái và trẻ trai dài như nhau. Từ 3 tuổi trở đi, họng trẻ trai dài hơn họng trẻ gái.
– Niêm mạc họng được phủ một lớp biểu mô rung hình trụ.
– Họng có các tổ chức lympho tạo thành một vòng bao quanh gọi là Vòng bạch huyết Waldayer có chức năng sinh kháng thể để bảo vệ cơ thể.
– Cấu tạo của vòng Waldayer gồm:
+VA (vegation adenoid) – amidan họng.
+Amidan vòi.
+ Amidan khẩu cái.
+ Amidan dưới lưỡi
– Vòng bạch huyết Waldayer phát triển mạnh từ 4 – 6 tuổi cho đến tuổi dậy thì. Ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi tổ chức bạch huyết ít phát triển, thường chỉ thấy VA (amidan vòm) mà chưa thấy amidan khẩu cái phát triển. Từ 2 tuổi trở lên, amidan khẩu cái mới phát triển rõ và có thể nhìn thấy được.
– Khi các tổ chức bạch huyết này bị viêm nhiễm sẽ ảnh hưởng đến chức phận ngoài hô hấp, trẻ phải thở bằng miệng. Thở miệng sẽ không được sâu, không khí không được sưởi ấm, số lượng không khí trao đổi ít hơn, lồng ngực sẽ kém phát triển.
3. Thanh, khí, phế, quản
– Thanh quản: khe thanh âm ngắn, thanh đới dài nên trẻ có giọng cao hơn. Từ 12 tuổi dây thanh đới của trẻ trai phát triển dài hơn trẻ gái nên giọng trẻ trai trầm hơn.
– Khí quản: niêm mạc nhẵn, nhiều mạch máu nhưng tương đối khô vì các tuyến dưới niêm mạc chưa phát triển, sụn khí quản mềm dễ bị co giãn.
– Phế quản: phế quản gốc phải to hơn và dốc hơn phế quản gốc trái do vây dị vât hay rơi vào phổi phải.
– Đặc điểm chung của thanh, khí, phế quản ở trẻ em là lòng tương đối hẹp, tổ chức đàn hồi ít phát triển, vòng sụn mềm, dễ biến dạng.
– Do những đặc điểm kể trên, trẻ em dễ bị viêm nhiễm đường hô hấp, niêm mạc thanh khí phế quản dễ bị phù nề, xuất tiết và dễ bị biến dạng trong quá trình bệnh lí.
4. Phổi
Phổi trẻ em lớn dần theo tuổi. Trọng lượng phổi trẻ sơ sinh là 50 – 60gr (khoảng 1/34 – 1/54 trọng lượng cơ thể). Đến 6 tháng tuổi tăng gấp 3 và đến 12 tuổi tăng gấp 10 lần so với lúc đẻ. Phổi người lớn nặng hơn phổi trẻ sơ sinh 20 lần. Thể tích phổi trẻ em trong quá trình phát triển tăng lên rất nhanh (trẻ sơ sinh là 65 – 67 ml, đến 12 tuổi sẽ tăng gấp 10 lần).
Tổng số phế nang ở người lớn là 600 000 000 – 700 000 000. ở trẻ sơ sinh có 30 000 000 phế nang, đến 8 tuổi số phế nang đã tăng lên 10 lần. Phổi ở trẻ em nhất là trẻ nhỏ có nhiều mạch máu, các mạch bạch huyết và sợi cơ nhẵn cũng nhiều hơn. Vì vậy phổi trẻ em có khả năng co bóp lớn và tái hấp thu các chất dịch trong phế nang nhanh chóng hơn. Bên cạnh những đặc điểm trên, phổi trẻ nhỏ ít tổ chức đàn hồi, đặc biệt là xung quanh các phế nang và thành mao mạch. Các cơ quan ở lồng ngực chưa phát triển đầy đủ nên lồng ngực di động kém, trẻ dễ bị xẹp phổi, khí phế thũng, giãn các phế nang khi bị viêm phổi, ho gà …
Rốn phổi gồm có phế quản gốc, thần kinh, mạch máu và nhiều hạch bạch huyết. Những hạch này liên hệ với các hạch khác ở phổi. Vì vậy bất kì 1 quá trình viêm nhiễm nào ở phổi cũng có thể gây phản ứng của các hạch rốn phổi. Các hạch bạch huyết rốn phổi có thể chia làm 4 nhóm:
1. Nhóm hạch khí quản.
2. Nhóm hạch khí – phế quản.
3. Nhóm hạch phế quản – phổi.
4. Nhóm hạch ở giữa chỗ khí quản chia đôi.
Những hạch bạch huyết ở rốn phổi có liên quan với hạch bạch huyết ở trung thất, thượng đòn và cổ. Những nhóm hạch này ở trẻ em có các xoang rộng, nhiều mạch máu do đó dễ bị viêm nhiễm.
5. Màng phổi
Màng phổi ở trẻ em nhất là trẻ sơ sinh, nhỏ tuổi rất mỏng, dễ bị giãn ra khi hít vào sâu hoặc khi tràn dịch tràn khí màng phổi.
Khoang màng phổi do 2 lá màng là lá thành và lá tạng tạo nên. Khoang màng phổi ở trẻ nhỏ dễ bị thay đổi vì lá thành của màng phổi dính vào lồng ngực không chắc. Sự tích luỹ các chất dịch do các quá trình viêm tạo nên trong màng phổi dễ gây hiện tượng chuyển dịch các cơ quan ở trung thất và gây viêm nhiễm. Trung thất lại được bao bọc bằng các tổ chức tế bào xốp và lỏng lẻo vì vậy dễ gây hiện tượng rối loạn tuần hoàn trầm trọng.
6. Trung thất
Trun thất được giới hạn ở phía sau là thân đốt sống, phía dưới là cơ hoành, phía trên là các màng phổi bao bọc phổi còn phía trước là thân và cán xương ức.
Phần trên của trung thất có tuyến giáp trạng, khí quản, các phế quản lớn hạch bạch huyết, thần kinh (thần kinh quặt ngược, thần kinh hoành), các tĩnh mạch, phần lên của cung động mạch chủ.
Phần dưới của trung thất có tim, các mạch máu, thần kinh.
Phần sau của trung thất có thần kinh phế vị, thần kinh giao cảm và một phần thực quản.
Trung thất của trẻ em tương đối lớn hơn so với người lớn, mềm mại và dễ co giãn.
7. Lồng ngực
Hình thể và cấu tạo lồng ngực trẻ em thay đổi nhiều theo tuổi và có những đặc điểm:
– Lồng ngực trẻ sơ sinh tương đối ngắn, hình trụ, đường kính trước sau gần như bằng đường kính ngang.
– Xương sườn nằm ngang và thẳng góc với cột sống.
– Cơ hoành nằm cao và cơ trên sườn chưa phát triển đầy đủ
Do các đặc điểm trên, khi trẻ thở vào lồng ngực không thay đổi mấy và do đó cũng giải thích được vì sao trẻ nhỏ lại thở chủ yếu bằng cơ hoành.
Khi trẻ biết đi, lồng ngực có thay đổi:
– Các xương sườn chếch xuống dưới.
– Đường kính ngang tăng nhanh và gấp đôi đường kính trước sau. Do đó mỗi lần thở được sâu và nhiều hơn và cũng là điều kiện cần thiết để xuất hiện thở ngực.
8. Điều hoà hô hấp
Cơ chế điều hoà hô hấp ở trẻ em cũng tuân theo những quy luật sinh lí như người lớn. Những cử động hô hấp đều do trung tâm hô hấp điều khiển có tính tự động và nhịp nhàng.
Trung tâm hô hấp nằm ở hành tuỷ và luôn chịu sự điều khiển của vỏ não. Chúng ta biết rằng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, trong mấy tháng đầu vỏ não và trung tâm hô hấp chưa phát triển hoàn toàn nên trẻ dễ bị rối loạn nhịp thở.
KẾT LUẬN
– Điều kiện hô hấp trẻ em tương đối khó khăn hơn người lớn. Nhu cầu oxy đòi hỏi cao hơn do đó trẻ dễ bị thiếu oxy.
– Do tổ chức phổi chưa hoàn toàn biệt hoá, ít tổ chức đàn hồi, nhiều mạch máu và bạch huyết nên dễ gây xẹp phổi. Mặt khác khi có 1 tổn thương ở phổi dễ gây ra rối loạn tuần hoàn phổi, rối loạn quá trình ngoại hô hấp cũng như quá trình trao đổi khí ở phổi.
Do những đặc điểm giải phẫu sinh lí bộ phận hô hấp ở trẻ em như đã mô tả trên đây nên trẻ em, nhất là trẻ nhỏ dễ mắc bệnh đường hô hấp, đặc biệt là viêm phổi.
GS. TS Trần Quỵ
ho-cam1

2 1